|
| Trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tình hình biến đổi khí hậu và các bất ổn kinh tế, xung đột về chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khó lường…, với mục tiêu tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động thích ứng, phục hồi nhanh và phát triển bền vững cả về số lượng, chất lượng, thực sự trở thành lực lượng quan trọng đảm bảo tính tự chủ của nền kinh tế. Triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo Nghị quyết 58/NQ-CP ngày 21/4/2023 của Chính phủ trong bối cảnh tình hình chung của cả nước và của tỉnh còn nhiều khó khăn, nhất là giai đoạn đầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; song với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của các Bộ, ngành Trung ương, sự quyết tâm, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, cùng với nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, toàn tỉnh đã tập trung khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết năm 2025 đã đề ra.
Về triển khai các giải pháp hổ trợ về thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất: Bộ Tài chính liệt kê là một kết quả đạt được trong nhóm nhiệm vụ ngắn hạn nhằm hỗ trợ giảm chi phí cho doanh nghiệp; theo đó, tỉnh đã thực hiện việc giảm tiền thuê đất cho các doanh nghiệp theo Quyết định số 25/2023/QĐ-TTg ngày 03/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm 30% tiền thuê đất phải nộp. Năm 2025: Thực hiện Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 của Chính phủ, giảm tiền thuê đất cho 02 doanh nghiệp, với tổng số tiền 61.394.080 đồng; giảm thuế Bảo vệ môi trường theo Nghị quyết số 42/2023/UBTVQH15 ngày 18/12/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với xăng, dầu, mỡ nhờn trong năm 2024, lũy kế số tiền thuế BVMT được giảm là 90,573 tỷ đồng (tính đến hết kỳ kê khai thuế tháng 5/2024); giảm thuế GTGT theo Nghị định số 94/2023/NĐ-CP ngày 28/12/2023 của Chính phủ, lũy kế đến hết kỳ kê khai thuế tháng 5/2024, có 1.426 doanh nghiệp thực hiện giảm 179,19 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan liên quan đã thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, bao gồm tư vấn, hướng dẫn miễn phí về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp lần đầu và miễn phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp lần đầu tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; tiếp tục thực hiện cải cách quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nhằm giảm dần sự khác biệt giữa chính sách thuế của doanh nghiệp và hộ kinh doanh, đồng thời hướng dẫn hộ kinh doanh khi chuyển đổi sang thành lập doanh nghiệp thực hiện kê khai nộp thuế theo quy định. Hiện nay, 100% doanh nghiệp tại Vĩnh Long đã thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế bằng phương thức điện tử, đồng thời thực hiện Hóa đơn điện tử và Hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Về giảm chi phí nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản: Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể tập trung vào việc áp dụng khoa học kỹ thuật và tận dụng nguồn lực địa phương để giảm chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và lúa. Tiếp tục đẩy nhanh ứng dụng cơ giới hoá trong sản xuất lúa để giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm giá thành, tăng hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân; giảm chi phí chăn nuôi, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, chuyển giao kỹ thuật để người chăn nuôi biết cách sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các loại thức ăn chăn nuôi; khuyến khích tận dụng nguồn nguyên phụ liệu sẵn có tại địa phương để phối trộn làm thức ăn chăn nuôi, khuyến khích hình thành các trang trại chăn nuôi tập trung áp dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi nhằm làm giảm giá thành sản xuất; chuyển đổi cây trồng trên đất sản xuất lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác thích hợp hơn, hiệu quả hơn; triển khai các ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, mặc dù không trực tiếp là giảm chi phí nguyên vật liệu, nhưng giúp tối ưu hóa quy trình và hiệu quả. Về tháo gỡ khó khăn trong quản lý chi phí, định mức xây dựng: Tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý chi phí và định mức xây dựng, bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành và thực tế thi công tại địa phương, cụ thể: Hướng dẫn áp dụng bộ định mức, đơn giá xây dựng mới, kịp thời điều chỉnh, cập nhật giá vật liệu, nhân công, máy thi công theo biến động thị trường, giúp các chủ đầu tư và nhà thầu có cơ sở lập, thẩm định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng chính xác, minh bạch. Đồng thời, đề xuất Bộ Xây dựng xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định chưa phù hợp thực tiễn, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, kiểm soát chi phí hiệu quả và nâng cao chất lượng công trình xây dựng; rà soát, cập nhật, công bố giá vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ, Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng và các văn bản pháp luật khác có liên quan; kiểm tra, rà soát, quản lý chặt chẽ giá vật liệu xây dựng, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thường xuyên theo dõi, bám sát diễn biến thị trường xây dựng để kịp thời cập nhật, công bố giá vật liệu xây dựng theo quy định của pháp luật. Về ổn định nguồn cung xăng dầu: Tỉnh đã chỉ đạo Sở Công Thương thường xuyên kiểm tra hệ thống phân phối, cửa hàng bán lẻ, nắm bắt tình hình cung ứng và kịp thời xử lý các trường hợp gián đoạn nguồn hàng hoặc đầu cơ, tăng giá trái quy định. Đồng thời, chủ động làm việc với các đầu mối, thương nhân phân phối lớn để điều tiết nguồn cung hợp lý giữa các khu vực, tăng cường dự trữ lưu thông, bảo đảm không để xảy ra thiếu hụt cục bộ. Song song đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, minh bạch thông tin thị trường, góp phần duy trì nguồn cung xăng dầu ổn định, an toàn và bền vững trên địa bàn. Về vận hành thị trường điện: Phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên trong việc triển khai vận hành thị trường điện cạnh tranh theo lộ trình của Chính phủ. Công tác quản lý, điều độ và phân phối điện được thực hiện minh bạch, công khai, bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định và liên tục phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý hệ thống điện, nâng cao hiệu quả vận hành, giảm tổn thất điện năng và tối ưu hóa chi phí. Ngành điện lực đã duy trì cung cấp điện ổn định 100% cho các khu, cụm công nghiệp và khu dân cư, không xảy ra gián đoạn nghiêm trọng trong mùa khô, đáp ứng tốt nhu cầu phụ tải tăng cao. Về hỗ trợ lãi suất 2% theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP: Các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại các tỉnh cũ trước khi hợp nhất (Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre) đã lồng ghép triển khai thực hiện Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 21/4/2023 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ giảm chi phí cho doanh nghiệp và định hướng dòng vốn; thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên khuyến khích phát triển; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để tiếp tục giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho người dân và doanh nghiệp. Về đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, cơ chế thử nghiệm cho Fintech: Triển khai thực hiện Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre (cũ), tỉnh đã triển khai các giải pháp ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chíp, tài khoản định danh và xác thực điện tử; tiếp tục đẩy mạnh phát triển ngân hàng điện tử, ngân hàng số, tối ưu hóa mạng lưới hoạt động của các chi nhánh tổ chức tín dụng, mạng lưới ATM và POS. Về giảm tiền sử dụng nước: Các đơn vị cấp nước trên địa bàn tỉnh thực hiện rà soát định mức tiêu thụ, áp dụng chính sách giá linh hoạt, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân, thực hiện chính sách hỗ trợ tạm thời giảm tiền nước sinh hoạt cho hộ nghèo, cận nghèo và cơ sở giáo dục công lập, đồng thời giữ ổn định giá bán nước cho doanh nghiệp sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp, góp phần giảm chi phí vận hành và ổn định sản xuất. Bên cạnh đó, địa phương cũng tăng cường đầu tư, nâng cấp hệ thống cấp nước nông thôn, bảo đảm cung cấp đủ và ổn định nguồn nước sạch, hướng tới phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Lâm Dung – Nguồn Báo cáo số 447/BC-UBND |
